Hiển thị các bài đăng có nhãn GÓC TÂM HỒN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GÓC TÂM HỒN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

TẢN MẠN NHÂN NGÀY LỄ CÁC LINH HỒN



Đối với người công giáo chúng ta, chết là kết thúc cuộc sống trên dương trần này, để trở về với người Cha của muôn loài – Đấng tạo dựng nên trời đất muôn vật , trong tình thương yêu và mong chờ ngày họp mặt. Thế nhưng không phải ai cũng được diễm phúc được đoàn tụ ngay với Thiên Chúa. Một số người vì chưa chuẩn bị chu đáo cho hành trình đi về Nước Trời, nên vẫn còn phải lưu lại một nơi nào đó ( trên hành trình của mình ) để chịu thanh tẩy trước khi gặp lại người Cha nhân từ và giàu lòng thương xót. Vì vậy mà họ rất cần đến những lời cầu nguyện, những việc làm hy sinh của mỗi người chúng ta để hoàn tất cuộc hành trình này.

Khi còn nhỏ, tôi rất sợ khi phải đi ngang qua nơi yên nghỉ của những người đã khuất. Mỗi lần có dịp đi ngang qua nơi này, là y như rằng tôi đi  lướt qua thật nhanh. Thế rồi ba tôi đột ngột qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại mấy chị em tôi cùng với người mẹ ít tuổi đời  nhưng nhiều nỗi lo toan, bơ vơ trong cuộc đời đầy  bon chen vất vả. Ngày ba tôi mất, tôi còn quá nhỏ để có thể cảm nhận được nỗi mất mát lớn lao này. Mấy bà hàng xóm cứ giục tôi “ khóc đi, khóc lớn lên con ! “  trên đường đưa tiễn ba tôi tới nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi đã không khóc được vì trí óc non nớt của tôi chẳng hiểu gì cả. 

Thấm thoát đã 28 năm trôi qua kể từ ngày ba tôi mất.  Hằng năm, cứ vào dịp lễ tết và đặc biệt vào ngày lễ các linh hồn, tôi thường ra thăm mộ ba và ghé thăm cả những người hàng xóm của ba nữa. Bây giờ tôi đã không còn sợ khi ở gần bên họ, mà trái lại tôi có thể la cà hàng giờ để thăm hỏi người này, gặp lại người kia, hoặc chào hỏi người họ như lâu ngày xa cách.

Thế giới của những người đã khuất cũng phát triển  nhộn nhịp chẳng khác gì thế giới của chúng ta. Nếu bạn có dịp đi ngang qua những nơi này, chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt giàu nghèo giữa các mộ phần, đủ để làm người ta chạnh lòng. Phần mộ của ba tôi cũng nhiều lần được sửa sang lại để tránh bị ngập nước, do khu vực xung quanh được nâng cao dần theo năm tháng .  

Đứng ngắm nhìn di ảnh của ba với đôi mắt cương nghị nhưng ấm áp, và gương mặt như bừng sáng với nụ cười trên môi, chắc hẳn rằng ba tôi đang sống vui vẻ trong niềm hân hoan đoàn tụ với Vua Trời. Ở trên Thiên Quốc, ba hãy cầu nguyện cho gia đình mình được mạnh khỏe, sống hòa thuận yêu thương nhau. Cũng như biết sống và lưu truyền hạt giống Đức Tin mà ba và những thế hệ cha ông đã dày công vun đắp. Để một ngày kia, tất cả gia đình mình cùng được vui hưởng sum vầy trên Quê Trời, ba nhé! 

Mặc dù giữa buổi trưa nóng bức, nhưng văng vẳng bên tai tôi là những tiếng rì rầm cầu nguyện cho những người đã khuất, bên những phần mộ ngập tràn hoa tươi và khói nhang nghi ngút …

MÓN QUÀ QUÝ GIÁ NHẤT




Tôi không thể nào quên được một ngày hè nắng nóng tháng 7 năm 1965, khi mẹ tôi đột ngột qua đời ở tuổi 36 vì một căn bệnh không rõ nguyên nhân. Cuối buổi chiều hôm đó, một cảnh sát viên đã đứng trước mặt cha tôi để xin cho bệnh viện được nhận van tim và giác mạc từ đôi mắt của mẹ tôi. Tôi choáng váng hoàn toàn. Các bác sĩ đã muốn cắt rời thân thể mẹ tôi và đem cho người khác, tôi nghĩ như thế khi bỏ chạy vào trong nhà nước mắt đầm đìa.

Vào cái tuổi 14, tôi không hiểu tại sao người ta lại cắt xẻ một người mà tôi yêu thương. Không cần suy nghĩ lâu, cha tôi đã trả lời: "Vâng".

"Sao cha để cho người ta làm như vậy với mẹ con?" Tôi hét lên với cha. "Mẹ con bước vào thế giới này trong một hình hài, nếu làm vậy thì làm sao mẹ ra đi được."

"Linda", cha tôi nói một cách bình tĩnh vòng tay ôm lấy người tôi, "món quà tặng vĩ đại nhất con có thể đem cho là một phần của chính con. Mẹ con và cha đã quyết định cách đây khá lâu là nếu chúng ta có thể làm thay đổi cuộc sống của một người nào đó sau khi ta chết đi, thì lúc đó cái chết của ta mới có ý nghĩa". Cha tiếp tục giải thích cho tôi biết là cha và mẹ đã quyết định sẽ hiến tặng những bộ phận trong cơ thể.

Bài học cha đã dạy ngày đó trở nên một trong những điều quan trọng nhất trong đời tôi.

Nhiều năm trôi qua. Tôi kết hôn và có một gia đình riêng. Năm 1980, cha tôi bị bệnh phổi và đến ở với chúng tôi. Trong khoảng sáu năm sau đó, chúng tôi đã dành nhiều thì giờ để bàn luận về cuộc sống và cái chết.

Cha nói với tôi một cách vui vẻ, khi ông chết, ông muốn tôi tặng bất cứ một bộ phận nào còn tốt của cơ thể ông, đặc biệt là đôi mắt. "Ánh sáng là một trong những món quà vĩ đại nhất mà người ta có thể trao tặng", cha nói rằng kỳ diệu biết bao nếu có thể giúp cho một đứa bé khiếm thị có thể được nhìn thấy và vẽ những con ngựa như con gái Wendy của tôi đã vẽ.

Cô bé cứ vẽ những con ngựa suốt cả cuộc đời, giành hết phần thưởng này đến phần thưởng khác. "Hãy cứ nghĩ đến việc người cha người mẹ cảm thấy tự hào như thế nào nếu cô con gái của họ có thể vẽ như Windy". Cha nói.

"Hãy nghĩ con sẽ cảm thấy tự hào như thế nào khi biết rằng đôi mắt của cha có thể làm nên điều đó"

Tôi đã kể cho Wendy những gì mà ông ngoại từng nói, mắt đẫm lệ, con bé vào phòng ông và ôm ghì chặt lấy ông ngoại.

Nó chỉ mới 14 tuổi_ đúng vào cái tuổi mà tôi vừa mới được biết về việc hiến tặng thân thể. Thật khác biệt làm sao!

Cha tôi mất vào ngày 11 tháng tư năm 1986, và chúng tôi đã tặng đôi mắt theo ước nguyện của ông. Ba ngày sau đó Wendy nói: "Mẹ, con rất tự hào về những gì mẹ đã làm cho ông"
"Ðiều đó làm con tự hào sao?" Tôi hỏi.


"Mẹ cứ tin chắc điều đó! Mẹ có bao giờ nghĩ cuộc sống sẽ như thế nào nếu không được nhìn thấy? Khi con chết đi, con muốn đôi mắt của con cũng được hiến tặng giống như ông"

Vào lúc đó, tôi chợt nhận ra cha tôi đã cho nhiều hơn là đôi mắt của ông. Những gì cha để lại đang lấp lánh trong đôi mắt của con gái tôi niềm tự hào.

Ðiều tôi không hề biết được trong ngày hôm ấy, khi ôm Wendy trong vòng tay, là chỉ hai tuần sau đó tôi lại phải một lần nữa ký vào những tấm giấy hiến tặng cơ thể.

Con gái yêu dấu, tài năng của tôi, Wendy bị một chiếc xe tải đâm phải khi đang cưỡi ngựa bên lề đường. Khi tôi ký vào tấm giấy, những lời của con cứ vang mãi bên tai: "Mẹ cứ tin chắc điều đó! Mẹ có bao giờ nghĩ cuộc sống sẽ như thế nào nếu không được nhìn thấy?"

Ba tuần sau khi Wendy mất, tôi nhận được một lá thư từ ngân hàng mắt.

Thưa ông bà Rivers, Chúng tôi xin thông báo cho ông bà biết cuộc phẫu thuật ghép giác mạc đã thành công và giờ đây hai người mù đã có thể phục hồi thị giác. Họ đang đại diện cho một kỷ niệm sống của con gái ông bà _ người đã quan tâm và chia sẻ những điều tốt đẹp nhất của cuộc sống này.

Nếu tại một nơi nào đó, một người nhận mắt bỗng chợt nhận ra một tình yêu mới dành cho những con ngựa, và ngồi hàng giờ để phác họa chân dung của những con ngựa xinh xắn, tôi nghĩ rằng tôi biết ai là người hiến tặng - Một cô gái tóc vàng, mắt xanh vẫn đang ngồi vẽ.
Top of Form
Bottom of Form
Top of Form
Bottom of Form
Top of Form
Bottom of Form
Top of Form
Bottom of Form


Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

BẠN PHẢI TIN CÁI ĐÃ !


- Các cậu nghĩ bọn mình có cứu được nó không? - Một cậu bé thốt lên.

- Tớ không biết, trông nó tệ quá! - Một cậu bé khác thêm vào.

- Các cậu phải tin cái đã! - Cậu bé nhỏ con nhất nói to - Có thể mất thời gian, nhưng chúng ta sẽ cứu được!

Vài ngày trước, ba cậu bé đã làm một hình người tuyết to nhất trong công viên. Nhưng thời tiết ấm lên, một chút mưa và gió đã làm hỏng nó. Cái mũ thì bay đâu mất, nó chỉ còn lại một mắt, và ngay cả cái mũi bằng củ cà-rốt cũng đã bị bọn sóc ăn mất. 

- Nhưng chúng ta làm gì có tuyết mà sửa! - Một cậu bé thở dài.

Tuyết quanh đó đã tan gần hết. Một cậu bé bỗng chỉ tay ra ngôi nhà lớn cạnh công viên

- Vườn nhà ông Jeffries còn rất nhiều tuyết! Khu vườn có mái che nắng mà!

- Nhưng tớ không vào xin đâu, ông ấy dữ lắm!

- Thế thì chẳng bao giờ chúng ta sửa được người tuyết cả!

Ba cậu bé ngồi lặng lẽ. Bỗng nhiên, cậu nhỏ con nhất đứng dậy:

- Tớ sẽ đi hỏi ông ấy!

Hai cậu bé cao lớn hơn hoảng hốt:

- Thế nào rồi cậu cũng bị ông ấy nhốt lại cho mà xem!

Nhưng cậu bé nhỏ con nhất đã chạy vụt đi. Thu hết can đảm, cậu bé bước vào vườn nhà ông Jeffries và gõ cửa. Mãi, cuối cùng một ông cụ cũng ra mở cửa.

Một lúc sau, hai cậu bé ngồi chờ ở công viên thấy cậu bé nhỏ con đi ra phía trước, ông Jeffries theo sau.

- Nó dẫn ông ấy ra đuổi chúng ta hay sao? - Một trong hai cậu bé đứng bật dậy, lo lắng.

Nhưng không phải thế. Ông Jeffries cầm theo hai cái xẻng xúc tuyết và kéo một cái xe đẩy to. Ông bắt đầu xúc tuyết trong vườn nhà, rồi kéo cái xe vào công viên. Ông Jeffries kêu to:

- Các cậu bé, ông cháu ta cùng phải sửa lại người tuyết này!

Bốn ông cháu lấy tuyết sửa lại từng chỗ bị vỡ, làm lại mắt bằng cục than, và làm lại mũi bằng một củ cà-rốt tươi. Có lẽ tất cả sự dữ dằn của ông Jeffries chỉ là do người ta đồn thổi.

Cuối cùng thì người tuyết cũng đã hoàn thành.             

- Đẹp thật đấy! - Cả bốn ông cháu cùng thốt lên. Sau đó họ chào tạm biệt nhau vì trời đã tối.

Chiều hôm sau, khi cùng ra công viên chơi, ba cậu bé nghe thấy tiếng còi xe cấp cứu. Có nhiều người đang đứng trước cửa nhà ông Jeffries.

Bọn trẻ chạy ào đến nhà "người bạn mới".

- Có chuyện gì vậy ạ? - Một cậu bé hỏi người lớn đứng cạnh.

- ông Jeffries... ông ấy mệt nặng!

Các bác sĩ đưa ông Jeffries ra. ông nằm trên cáng, mỉm cười, thì thào khi nhìn thấy ba cậu bé:

- Người tuyết cũng có lúc phải tan mà!

- Liệu có cứu được ông ấy không? - Tiếng một người lớn hỏi.

- Chúng tôi không chắc... - Một bác sĩ lắc đầu

- Mọi người phải tin đã chứ! - Cậu bé nhỏ con nhất vừa khóc vừa nói to - Giống như ông Jeffries đã cứu người tuyết ấy!

Tối hôm đó, ba cậu bé nghe người lớn nói rằng ông Jeffries đã qua đời.

Đã 25 năm kể từ ngày đó và năm nay, công viên được đổi tên thành "Công viên Jeffries". Một cuộc thi làm người tuyết cũng được tổ chức cho tất cả trẻ em trong thành phố.

Đó là vì cậu bé nhỏ con nhất đã trở thành Thị trưởng.  

Nếu bạn hỏi ông thị trưởng đã làm cách nào để đạt được những thành công đó, ông ấy sẽ trả lời:

- Trước hết, bạn phải tin cái đã!


(Sưu tầm )